Mục lục
Sao Thất Sát là một trong 14 chính tinh của Tử Vi Đẩu Số, là Nam Đẩu tinh. Tài liệu gọi đây là thượng tướng của các tinh đẩu, mô tả bằng hình ảnh “uy như thép của lưỡi kiếm”.
Tài liệu gốc nói thẳng một điều mà ít sao nào được nói rõ như vậy: Thất Sát “không phải là thiện tinh”, là cô thần cho sự thành bại, và “cần phải xét cho tỏ tường”. Đây là sao mạnh nhưng không tự thân mang phúc.
Cơ chế then chốt: Thất Sát cần được chế phục. Gặp Tử Vi thì biến thành quyền mà giáng phúc; không có sao nào chế phục thì tài liệu dùng những lời cảnh báo nặng nhất của cả bộ sách. Cách chúng tôi xử lý những đoạn đó được nói rõ ở mục Đặc tính.
Trong Tử Vi Đẩu Số, Thất Sát là sao mạnh, thường được nhắc với quyền uy và sự quyết liệt. Khi luận giải lá số tử vi, cần xét Thất Sát có được chế phục hay không, đồng cung với sao nào và ở cung nào.
Nhân vật tượng trưng: Hoàng Phi Hổ

Theo truyền thuyết Phong Thần, Hoàng Phi Hổ là quan trung nghĩa của An triều. Uất ức vì vua Trụ gây ra cái chết oan uổng cho vợ mình là Giả phu nhân (sao Thái Âm), ông nổi lên đem binh mã đánh lại Trụ Vương rồi quy thuận Vũ Vương, đánh trận rất hăng và thu nhiều thắng lớn.
Đây là truyền thuyết giúp ghi nhớ chất võ tướng của sao, không phải căn cứ để luận đoán.
Sao Thất Sát chủ về điều gì?
Thất Sát là Nam Đẩu tinh, chủ về quyền uy và hình thương; tài liệu gọi đây là thượng tướng của các tinh đẩu, nên ý nghĩa của sao gắn với sức mạnh nhưng cần có sao chế phục.
Tài liệu gốc định vị Thất Sát qua hai phương diện:
- Quyền uy thượng tướng của các tinh đẩu; đóng cung Quan Lộc thì cực tốt, biến họa ra phúc.
- Hình thương mặt sát phạt, thương tổn. Đây là phần khiến tài liệu gọi Thất Sát là “cô thần cho sự thành bại”.
Hai phương diện này là một: cùng một lưỡi kiếm, dùng đúng chỗ thì là quyền, dùng sai chỗ thì là thương. Điều quyết định là có sao chế phục hay không.
Nguồn không nêu hóa khí cho Thất Sát, và sao này cũng không có trong bảng tứ hóa.
Đặc tính của sao Thất Sát
Khi Thất Sát có điều kiện phát huy
- Là thượng tướng của các tinh đẩu, uy như thép của lưỡi kiếm.
- Tính tình thanh lương.
- Đóng cung Quan Lộc thì cực tốt, biến họa ra phúc.
- Gặp Tử Vi thì biến thành quyền mà giáng phúc.
- Được Xương Khúc miếu địa củng chiếu thì trong tay nắm quyền sinh quyền sát, phú quý hơn người.
- Đóng Dần, Thân, Tý, Ngọ thì “bốn phương chắp tay cúi chào người anh hùng”; thêm Khôi Việt, Xương Khúc hội tụ thì danh tiếng khắp nơi.
- Nữ mệnh nơi vượng địa thì tài liệu ghi tiền bạc vô kể, có oai quyền chí cao hơn con trai.
Khi Thất Sát thiếu sự nâng đỡ
- Làm cô thần cho sự thành bại; tài liệu nhắc phải xét cho tỏ tường vì đây không phải là thiện tinh.
- Vào số mệnh thì thường kinh lịch, gian nan tân khổ.
- Gặp tứ sát, Hóa Kỵ xung phá thì cuộc đời tầm thường; ở hãm địa thì tài liệu cảnh báo về tổn thương thân thể.
- Hội cùng Xương Khúc ở yếu địa thì tính tình ngang ngạnh.
- Ở hãm địa, tài liệu dùng hình ảnh “nguy hiểm như ôm hổ mà ngủ”.
Ghi chú cách đọc quan trọng với sao này. Thất Sát là chính tinh mà văn bản cổ dùng nhiều lời cảnh báo về tuổi thọ và tai họa nhất. Chúng tôi không trích lại nguyên văn những câu nặng nhất. Cách đọc có trách nhiệm: đó là ngôn ngữ cảnh báo của tài liệu truyền thống về một cấu trúc nhiều áp lực, dễ tổn hao và thiếu lực chế phục, không phải lời tiên đoán về tuổi thọ của một con người. Bản thân nguồn cũng chỉ ra lối ra: gặp Tử Vi, Lộc Tồn thì “giải cứu được”. Gặp cấu trúc này cần đối chiếu cả tam phương tứ chính, cung Phúc Đức và hoàn cảnh thực tế.
Phần nói riêng về nữ mệnh trong mục này của tài liệu cổ gắn kết luận hình khắc và tuổi thọ vào giới tính; Tử Vi Thiên Cơ không đăng lại và không dùng làm căn cứ luận giải.
Nếu chưa rõ các mức độ sáng nghĩa là gì, xem bài miếu, vượng, đắc, bình, hãm là gì.
Sao Thất Sát tại cung Mệnh
Tại cung Mệnh, Thất Sát được luận theo cơ chế chế phục đã nêu ở phần mở đầu, và cần xem cùng tam phương tứ chính, cung Thân trước khi nhận định.
Khi Thất Sát tọa thủ cung Mệnh, tài liệu ghi nhận:
- Thủ mệnh thường lầm lì.
- Đóng Dần, Thân, Tý, Ngọ thì suốt đời tước lộc.
- Cung Thân, Mệnh có Thất Sát thì thường gặp trắc trở, chỉ nhờ Tử Vi, Lộc Tồn mới giải cứu được đây là câu quan trọng nhất về sao này ở cung Mệnh.
Ở chiều ngược lại, ở hãm địa thì tài liệu dùng hình ảnh “ôm hổ dữ mà ngủ”; thủ mệnh ở nhàn cung thêm Cự Môn, Kình Đà chiếu xung thì cảnh báo về thương tích. Văn bản cổ cũng phân biệt nam nữ ở mục này bằng lời phán xét mà chúng tôi không đăng lại.
Xem thêm: vì sao không nên kết luận lá số chỉ từ một sao.
Sao Thất Sát tại các cung khác
- Quan Lộc: Cực tốt — biến họa ra phúc. Miếu vượng thì võ chức quyền quý, văn nhân không hay. Cùng Vũ Khúc thì có chức vị; cùng Liêm Trinh thì công danh hiển đạt.
- Tài Bạch: Cùng Tử Vi thì hoạnh tài; cùng Vũ Khúc thì tay trắng làm nên; cùng Liêm Trinh thì là người giỏi xoay sở.
- Thiên Di: Sống ở bên ngoài nhiều hơn ở trong nhà. Cùng Vũ Khúc thì nên hoạt động mới hay; cùng Liêm Trinh thì ở ngoài sinh tài; cùng Tử Vi thì ra ngoài được toại chí. Có Kình Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì lênh đênh; hội Thiên Hình, Hóa Kỵ ở cung này hay Tật Ách thì tài liệu cảnh báo nặng về sức khỏe và sự cô độc.
- Phu Thê: Cư Phu Thê thì “chăn đơn gối chiếc”. Cùng Vũ Khúc thì hôn nhân nhiều lần; cùng Liêm Trinh cũng hình thê.
- Tử Tức: Tọa Tử Tức thì con cái cô đơn.
- Phúc Đức: Nhập miếu thì hưởng phúc; cùng Tử Vi thì trước vất vả sau an nhàn, cuối đời mới toại tâm. Hãm địa thêm Kình Đà, Linh Hỏa thì lao tâm phí lực; cùng Vũ Khúc thì bất an; cùng Liêm Trinh thì tân khổ. Câu riêng về nữ mệnh đơn thủ ở cung này mang định kiến giới nặng nề, chúng tôi không đăng lại.
- Phụ Mẫu: Cô độc. Gặp Hình Tú tại Điền Trạch và Phụ Mẫu thì gia nghiệp đổ vỡ, khắc cha khắc mẹ; cùng Vũ Khúc thì khắc; cùng Liêm Trinh thì hình.
- Nô Bộc: Khi lăng chủ, có gia nhân rình rập. Cùng Vũ Khúc thì phản chủ; cùng Liêm Trinh thì bất đắc lực; bị Kình Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không thì phải hết sức cẩn thận về người giúp việc.
- Điền Trạch: Cùng Liêm Trinh thì tự gây dựng. Gặp Hình Tú thì gia nghiệp đổ vỡ.
- Tật Ách: Lúc bé lắm tai nạn, lớn bị trĩ. Cùng Liêm Trinh, Phá Quân, Thiên Phủ thì ít bệnh tật. Cùng Vũ Khúc thêm tứ sát thì tổn thương nơi tay chân; cùng Liêm Trinh thì bệnh về mắt; gặp Kình Đà, Linh Hỏa thì càng xấu.
Cung Huynh Đệ không có trong ghi chép về Thất Sát của các nguồn đang dùng. Chúng tôi để trống thay vì suy diễn.
Những sao hợp với Thất Sát
- Tử Vi quan hệ quan trọng nhất: gặp Tử Vi thì Thất Sát biến thành quyền mà giáng phúc. Cung Thân, Mệnh có Thất Sát thì nhờ Tử Vi mới giải cứu được.
- Lộc Tồn cùng Tử Vi, Lộc Tồn mới giải cứu được tai ương phá bại.
- Văn Xương, Văn Khúc được Xương Khúc miếu địa củng chiếu thì trong tay nắm quyền sinh quyền sát, phú quý hơn người.
- Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật đóng Dần, Thân, Tý, Ngọ thêm nhóm này thì khoa lộc danh cao, giàu sang phú quý.
- Hóa Quyền, Hóa Lộc hội Quyền Lộc thì danh cao thực lộc.
- Thái Tuế câu phú: “Thái Tuế phùng Thất Sát trí dũng hữu dư” người thừa trí dũng. Đây là điểm đáng chú ý vì Thái Tuế thường bị xem là bất lợi.
- Thiên Hỉ câu phú về tính tình: “Sát phùng Thiên Hỉ hãy suy ấy là phong nhã uy nghi mọi đàng”.
Những sao khắc kỵ với Thất Sát
- Thiên Hình, Hóa Kỵ hội ở Thiên Di hay Tật Ách thì tài liệu cảnh báo nặng về sức khỏe, sự cô độc và tuổi thọ; ngộ Không Vong cùng Thiên Hình thì mắc họa lớn.
- Liêm Trinh hội Liêm Trinh hãm địa tại Thân, Mệnh thì tài liệu ghi bệnh phổi; gặp Liêm Trinh và sao Hao ở Thiên Di thì lời văn rất nặng về an nguy khi đi xa.
- Kình Dương, Đà La rơi vào tuyệt địa gặp Kình Đà thì tài liệu cảnh báo nặng về tuổi thọ; gặp lưu niên Kình Dương thì rời bỏ quê hương.
- Hỏa Tinh gặp Hỏa Tinh thì Thất Sát biến thành sát tinh để làm lớn uy thế của nó; thêm Kình Dương thì tài liệu mô tả nghề nghiệp gắn với sát phạt.
- Linh Tinh trùng phùng tứ sát, gặp Hỏa Linh ở hãm địa thì cảnh báo về rủi ro nơi chinh chiến.
- Bạch Hổ đi cặp với Kình Dương, Linh Tinh mà lưu niên gặp Bạch Hổ thì tài liệu ghi vướng vòng lao lý.
- Phá Quân Thất Sát, Phá Quân chuyên ỷ vào sự ngược ngạo của Kình Dương, Linh Tinh; đồng Phá Quân thì nên xuất ngoại.
- Tham Lang Thất Sát là cô độc tinh, gặp Tham Lang lại thêm Kình Đà thì rất xấu. Phần nói riêng về nữ mệnh ở đây mang định kiến giới, chúng tôi không đăng lại.
- Văn Khúc cùng Thiên Hình, Hóa Kỵ Văn Khúc hội Thất Sát thêm ác tinh bao vây thì tài liệu mô tả cấu trúc dễ vướng pháp lý.
- Tuyệt, Thiên Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Tiểu Hao hạn đến Tuyệt địa gặp nhóm này thì trước giàu sau nghèo.
- Triệt, Tuần câu phú: “Sát Phá Tham tối kỵ Triệt Tuần”.
- Tả Phụ, Hữu Bật trường hợp hai mặt: Tả Hữu là sao hợp ở nhóm trên, nhưng bài Tả Hữu nữ mệnh ca lại có một câu về tuổi thọ mang định kiến giới, chúng tôi không đăng lại.
Câu phú nôm về nữ mệnh trong nhóm Đào Hoa – Hồng Loan – Sát – Phá – Tham – Liêm cũng nằm trong nhóm không đăng lại.
Lưu ý cách đọc: hãy đọc mục này cùng ghi chú ở phần Đặc tính. Bản thân nguồn đã chỉ ra lối ra cho Thất Sát — Tử Vi và Lộc Tồn — nên các tổ hợp trên mô tả tình huống thiếu lực chế phục, không phải định mệnh. Xem thêm: vì sao không nên kết luận lá số chỉ từ một sao.
