Chính tinh

Thái Âm

Sao Thái Âm là tinh hoa của Thủy, hóa khí thành phú, chủ về điền trạch và là phối tinh của Thái Dương. Tra cứu đặc tính, độ sáng 12 cung, sao hợp – sao kỵ.

Hành
Thủy
Hóa khí
Phú
Tên khác
Nguyệt
Nhân vật
Giả phu nhân

Thông tin cơ bản

Tên sao
Thái Âm
Tên khác
Nguyệt
Phân loại
Chính tinh
Ngũ hành
Thủy
Hóa khí
Phú
Âm dương
Nguồn không ghi
Nhân vật tượng trưng
Giả phu nhân
Chủ về
Điền trạch
Đẩu phận
Nguồn không ghi

Sao Thái Âm là một trong 14 chính tinh của Tử Vi Đẩu Số, còn được gọi là Nguyệt. Tài liệu gốc gọi đây là tinh hoa của Thủy, hóa khí thành phú, và là phối tinh của Thái Dương cặp Nhật Nguyệt.

Từ khóa quyết định của sao này là cần được chiếu sáng. Tài liệu viết rất gọn: “có được chiếu sáng mới có phúc, thất hãm thì hung”. Cũng như mặt trăng không tự phát sáng, Thái Âm phụ thuộc vào vị trí và các sao chung quanh nhiều hơn phần lớn chính tinh khác.

Thái Âm làm chủ cung Điền Trạch; chính ở cung này sao hóa khí thành phú. Trong cung Phụ Mẫu, Thái Âm là mẹ đối xứng với Thái Dương là cha.

Thái Âm là sao thường được nhắc khi luận giải lá số tử vi về điền trạch, tài sản và hình ảnh người mẹ. Như mặt trăng, Thái Âm cần được xem theo vị trí cung và độ sáng miếu, hãm, cùng sự phối hợp với Thái Dương trong cặp Nhật Nguyệt.

Nhân vật tượng trưng: Giả phu nhân

Nhân vật tượng trưng Sao Thái Âm là Giả phu nhân
Nhân vật tượng trưng Sao Thái Âm là Giả phu nhân

Theo truyền thuyết Phong Thần, Giả phu nhân là vợ Hoàng Phi Hổ, bị Đắc Kỷ bày kế hãm hại nên lao mình tự tử để giữ tiết. Bà được Thái Bạch Kim Tinh đặt làm nữ thần của sự thanh khiết và cho trú ngụ nơi sao Thái Âm; từ đó tinh cầu này trở nên gọn ghẽ, sáng sủa và rất sạch.

Đây là truyền thuyết giúp ghi nhớ tính chất thanh khiết của sao, không phải căn cứ để luận đoán.

Sao Thái Âm chủ về điều gì?

Thái Âm còn gọi là Nguyệt, thuộc hành Thủy, chủ về điền trạch và có hóa khí là phú; nghĩa là sao này gắn với nhà cửa, đất đai và của cải.

Tài liệu gốc định vị Thái Âm ở một phương diện chính:

  • Điền trạch làm chủ cung Điền Trạch; ở cung này thì hóa khí thành phú, tức nhà cửa ruộng đất, của cải tích lũy.

Kèm theo là ba vai trò mô tả:

  • Phối tinh của Thái Dương cặp Nhật Nguyệt, hai sao tượng trưng cho nghi biểu của trời.
  • Đại diện cho mẹ trong cung Phụ Mẫu.
  • Thanh khiết, đoan nhã, thuần lương chất liệu tính cách của sao.

Đặc tính của sao Thái Âm

Khi Thái Âm có điều kiện phát huy

  • Cùng Thái Dương tượng trưng cho nghi biểu của trời.
  • Đắc địa là người thông minh, tuấn tú, bẩm tính đoan nhã, thuần lương.
  • Nhập miếu thì biến thành Quyền tinh, con người thanh tú siêu quần.
  • Bẩm tính ôn lương, cung kiệm khiêm nhường, làm quan thanh hiển trong triều.
  • Ở Dậu gặp nhiều sao tốt, thêm Thái Dương ở Mão chiếu sang, thì hưởng đại phúc.
  • Miếu vượng thì sáng rực rỡ và có tiếng tăm; ở cung Mệnh thì phú quý.

Khi Thái Âm thiếu sự nâng đỡ

  • Có được chiếu sáng mới có phúc, thất hãm thì hung câu then chốt của sao này.
  • Hãm địa gặp ác sát xung phá thì tài liệu mô tả hoàn cảnh sống rất chật vật và nguy cơ tổn thương thân thể.
  • Rất sợ Kình Dương, Đà La đồng cung.
  • Sợ Liêm Trinh phạm Thất Sát xung phá.
  • Tại Dần hội Thiên Cơ, Xương Khúc thì dù có sao tốt cũng khó làm nên cơ nghiệp.
  • Hãm địa thì tiền tài nan tụ; ở Quan Lộc thì tài liệu mô tả là người khó hợp tác, khó hiển đạt.

Bảng độ sáng của Thái Âm rất lệch hãm ở tới năm cung liền nhau (Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ) và miếu vượng ở nhóm cung đối diện. Đây là lý do độ sáng quan trọng với sao này hơn hầu hết chính tinh khác. Nếu chưa rõ các mức này nghĩa là gì, xem bài miếu, vượng, đắc, bình, hãm là gì.

Sao Thái Âm tại cung Mệnh

Tại cung Mệnh, Thái Âm phụ thuộc rất nhiều vào việc có được chiếu sáng hay không, nên cần xem vị trí cung và các sao chiếu trong tam phương tứ chính trước khi luận.

Khi Thái Âm tọa thủ cung Mệnh, tài liệu ghi nhận:

  • Đóng ở Thân, Mệnh thì phúc lộc tư sinh.
  • Nhập miếu thì biến thành Quyền tinh, làm quan thanh hiển.
  • Bẩm tính ôn lương, cung kiệm khiêm nhường.

Ở chiều ngược lại, gặp ác sát xung phá thì tài liệu dùng lời rất nặng về hoàn cảnh sống. Nên đọc đây là mô tả một cấu trúc thiếu nguồn lực và thiếu chỗ dựa, không phải dự báo về đời một người. Xem thêm: vì sao không nên kết luận lá số chỉ từ một sao.

Sao Thái Âm tại các cung khác

  • Quan Lộc: Nhập miếu thì quý hiển. Hội cùng Thái Dương, Xương Khúc, Tả Hữu thì làm tới bậc tam phẩm; cùng Thiên Đồng thì văn vũ đều hay; cùng Thiên Cơ thì náo trung tiến thân. Bất lợi thì khó hiển đạt.
  • Tài Bạch: Nhập miếu thì tiền bạc đầy kho. Cùng Thái Dương thì trước ít sau nhiều; cùng Thiên Cơ thì tay trắng làm giàu; cùng Thiên Đồng thì tài vượng; cùng Lộc Tồn, Tả Hữu thì đại phú. Hãm địa thì tiền tài nan tụ.
  • Thiên Di: Nhập miếu thì xuất ngoại gặp quý nhân, hoạnh phát tài sản. Cùng Thái Dương thì rất tốt; cùng Thiên Đồng miếu vượng thì xuất ngoại tay trắng làm nên cơ đồ. Hãm địa thì chiêu thị phi.
  • Phu Thê: Nhập miếu thì vợ chồng đều đẹp; thêm Xương Khúc càng đẹp và không sợ Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp. Cùng Thiên Cơ thì nội trợ giỏi. Đồng cung Văn Khúc hoặc Văn Xương ở cung này thì ví như “lên trăng hái cành quế”. Hãm địa hội Tang Môn, Bạch Hổ thì tài liệu khuyên thận trọng.
  • Phụ Mẫu: Thái Âm là mẹ. Miếu vượng thì tốt; cùng Thái Dương mà không bị tứ sát thì phụ mẫu song toàn. Bị Kình Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì khắc cha mẹ.
  • Nô Bộc: Miếu địa thì nhiều kẻ hầu người hạ; cùng Thái Dương càng hay. Cùng Thiên Cơ thì tài liệu ghi là không đắc lực.
  • Điền Trạch: Cung chủ của Thái Âm — ở đây sao hóa khí thành phú. Nhập miếu thì nhà cao cửa rộng; cùng Thiên Cơ thì tự tay gây dựng; cùng Tả Hữu, Quyền Lộc hay Lộc Tồn thì nhiều ruộng vườn. Hãm địa thêm Kình Đà, Linh Hỏa thì suốt đời lêu bêu.
  • Tật Ách: Vượng địa thì mạnh khỏe, vô tật bệnh. Hãm địa thì tài liệu ghi bệnh về phổi; gặp Kình Đà thì có bệnh mắt; gặp Hỏa Linh thì hay tai nạn; gặp Tham Lang, Thất Sát thì hại mắt; gặp Không Kiếp thì phong tật.

Ba cung Huynh Đệ, Tử Tức và Phúc Đức không có trong ghi chép về Thái Âm của các nguồn đang dùng. Chúng tôi để trống thay vì suy diễn.

Những sao hợp với Thái Âm

  • Thái Dương quan hệ nền tảng: Thái Âm là phối tinh của Thái Dương. Ở Dậu mà Thái Dương ở Mão chiếu sang thì hưởng đại phúc.
  • Văn Xương, Văn Khúc đồng cung ở cung Phu Thê thì ví như “lên trăng hái cành quế”.
  • Vũ Khúc, Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật gặp nhóm này là người giàu sang.
  • Hóa Quyền nhập miếu thì Thái Âm tự biến thành Quyền tinh.
  • Thiên Đồng ở Quan Lộc thì văn vũ đều hay, ở Tài Bạch thì tài vượng, ở Thiên Di thì tay trắng làm nên cơ đồ.
  • Long Trì, Phượng Các đi với Nhật Nguyệt rất hợp cách.
  • Tràng Sinh, Đế Vượng cùng Thái Dương câu phú ở cung Tử Tức: “Tràng sinh đế vượng đa nhân — Giáp chiếu Nhật Nguyệt có lần sinh đôi”.

Những sao khắc kỵ với Thái Âm

  • Kình Dương, Đà La kỵ hàng đầu: Thái Âm rất sợ Kình Đà đồng cung; ngộ Kình Đà thì “người xa của mất”.
  • Liêm Trinh cùng Thất Sát sợ Liêm Trinh phạm Thất Sát xung phá.
  • Bạch Hổ vận hạn lưu niên gặp Bạch Hổ thì tài liệu ghi thường chịu tang mẹ, đúng với vai trò Thái Âm đại diện cho mẹ.
  • Tang Môn hãm địa ở cung Phu Thê hội Tang Môn, Bạch Hổ thì cần thận trọng.
  • Thiên Lương ở Dần, Thân, Tị gặp Thiên Lương: tài liệu cổ có nhận xét rất nặng mang định kiến giới về nữ mệnh, chúng tôi không đăng lại và không dùng để luận giải.
  • Thiên Cơ tại Dần hội Thiên Cơ, Xương Khúc thì khó làm nên cơ nghiệp; ở Nô Bộc thì không đắc lực.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh ở Tật Ách thì hay tai nạn; ở Điền Trạch hãm địa thêm Kình Đà, Linh Hỏa thì suốt đời lêu bêu.
  • Văn Khúc trường hợp hai mặt: ở cung Phu Thê là sao hợp, nhưng tài liệu cũng ghi Văn Khúc cặp với Thái Âm thì làm “cửu lưu thuật sĩ”.
  • Đà La, Bạch Hổ, Thái Tuế câu phú nôm cốt tủy: “Nguyệt hãm Đà Hổ Tuế xung”, cảnh báo về sức khỏe người mẹ.
  • Tuần, Triệt cùng Thái Dương câu phú nôm ở cung Phụ Mẫu: “Âm Dương Tuần Triệt tại tiền — Mẹ cha ắt đã quy tiên thuở nào”.
  • Triệt câu phú nôm: “Nguyệt hãm gặp Triệt không thành quý”.

Lưu ý cách đọc: các câu phú về tang chế ở trên là ngôn ngữ cảnh báo của văn bản truyền thống, không phải dự báo về người thân của một người cụ thể. Mỗi tổ hợp vẫn cần xem cùng độ sáng, sao hội chiếu và chủ đề của cung. Xem thêm: vì sao không nên kết luận lá số chỉ từ một sao.