Ngũ hành Cục (gọi tắt là Cục) là một trong ba yếu tố nền của lá số Tử Vi, cùng với cung Mệnh và cung Thân. Có năm Cục: Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục và Hỏa lục cục. Con số đi kèm (2, 3, 4, 5, 6) không phải để trang trí: nó được dùng trực tiếp để tìm vị trí sao Tử Vi và để xác định tuổi khởi đại hạn đầu tiên.
Một điểm cần nói ngay: Cục là ngũ hành của cung Mệnh tính theo nạp âm, không phải ngũ hành của năm sinh (mệnh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ mà người ta hay nói theo tuổi). Hai khái niệm này thường bị nhầm lẫn và cho kết quả khác nhau.

Năm Cục và con số tương ứng
| Cục | Ngũ hành | Con số | Tuổi khởi đại hạn đầu |
|---|---|---|---|
| Thủy nhị cục | Thủy | 2 | 2 tuổi |
| Mộc tam cục | Mộc | 3 | 3 tuổi |
| Kim tứ cục | Kim | 4 | 4 tuổi |
| Thổ ngũ cục | Thổ | 5 | 5 tuổi |
| Hỏa lục cục | Hỏa | 6 | 6 tuổi |
Con số của Cục cũng là số tuổi bắt đầu đại hạn đầu tiên tại cung Mệnh, sau đó mỗi đại hạn kéo dài mười năm. Chi tiết cách chạy đại hạn nằm ở bài riêng về đại hạn.
Cách xác định Cục: ba bước
Cục được suy ra từ hai dữ kiện: Can của năm sinh và địa chi của cung Mệnh. Từ hai dữ kiện này, ta dựng ra can chi của cung Mệnh, tra nạp âm của cặp can chi đó, rồi lấy hành của nạp âm làm Cục.
Bước 1: Tìm Can của cung Mệnh (Ngũ Hổ Độn)
Mỗi ô địa chi trên lá số cũng mang một thiên can, được suy ra theo quy tắc gọi là Ngũ Hổ Độn: căn cứ Can năm sinh để xác định Can của ô Dần, rồi đếm thuận theo chiều kim đồng hồ để có Can của các ô còn lại.
| Can năm sinh | Can của ô Dần |
|---|---|
| Giáp, Kỷ | Bính |
| Ất, Canh | Mậu |
| Bính, Tân | Canh |
| Đinh, Nhâm | Nhâm |
| Mậu, Quý | Giáp |
Từ ô Dần, đếm thuận mỗi ô tiến một Can. Ví dụ với năm sinh Giáp hoặc Kỷ: Dần là Bính, Mão là Đinh, Thìn là Mậu, Tỵ là Kỷ, Ngọ là Canh, và cứ thế đến Tý là Bính, Sửu là Đinh (vòng Can lặp lại sau mười ô).
Bước 2: Tra nạp âm của can chi cung Mệnh
Có được can chi của cung Mệnh (ví dụ Bính Dần, Kỷ Tỵ), ta tra bảng nạp âm Lục Thập Hoa Giáp, trong đó mỗi cặp hai can chi liên tiếp chia sẻ một nạp âm. Chẳng hạn Bính Dần và Đinh Mão cùng là Lư Trung Hỏa.
Bước 3: Lấy hành của nạp âm làm Cục
Hành của nạp âm chính là Cục. Lư Trung Hỏa cho Hỏa lục cục; Đại Lâm Mộc cho Mộc tam cục; Giản Hạ Thủy cho Thủy nhị cục, và tương tự.
Bảng tra Cục nhanh
Bảng dưới đây gộp cả ba bước. Tra theo hàng là Can năm sinh, theo cột là cung Mệnh. Vì mỗi cặp cung liền kề (Tý–Sửu, Dần–Mão, Thìn–Tỵ, Ngọ–Mùi, Thân–Dậu, Tuất–Hợi) luôn cùng nạp âm nên luôn cho cùng một Cục.
| Can năm sinh | Tý, Sửu | Dần, Mão | Thìn, Tỵ | Ngọ, Mùi | Thân, Dậu | Tuất, Hợi |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Thủy nhị | Hỏa lục | Mộc tam | Thổ ngũ | Kim tứ | Hỏa lục |
| Ất, Canh | Hỏa lục | Thổ ngũ | Kim tứ | Mộc tam | Thủy nhị | Thổ ngũ |
| Bính, Tân | Thổ ngũ | Mộc tam | Thủy nhị | Kim tứ | Hỏa lục | Mộc tam |
| Đinh, Nhâm | Mộc tam | Kim tứ | Hỏa lục | Thủy nhị | Thổ ngũ | Kim tứ |
| Mậu, Quý | Kim tứ | Thủy nhị | Thổ ngũ | Hỏa lục | Mộc tam | Thủy nhị |
Hai ví dụ tính cụ thể
Ví dụ 1. Người sinh năm Giáp Tý, cung Mệnh nằm ở ô Dần.
- Can năm sinh là Giáp, theo Ngũ Hổ Độn thì ô Dần mang Can Bính, nên cung Mệnh là Bính Dần.
- Bính Dần thuộc nạp âm Lư Trung Hỏa.
- Hành là Hỏa, vậy Cục là Hỏa lục cục.
Ví dụ 2. Người sinh năm Đinh Sửu, cung Mệnh nằm ở ô Thìn.
- Can năm sinh là Đinh, ô Dần mang Can Nhâm. Từ Dần đếm thuận đến Thìn là hai ô: Dần Nhâm, Mão Quý, Thìn Giáp. Cung Mệnh là Giáp Thìn.
- Giáp Thìn thuộc nạp âm Phú Đăng Hỏa.
- Hành là Hỏa, vậy Cục là Hỏa lục cục.
Hai ví dụ trên tình cờ cùng ra Hỏa lục cục nhưng đi qua hai nạp âm khác nhau, cho thấy Cục phụ thuộc vào cả Can năm sinh lẫn vị trí cung Mệnh chứ không riêng yếu tố nào.
Cục dùng để làm gì trên lá số?
- An sao Tử Vi: con số Cục kết hợp với ngày sinh âm lịch cho ra vị trí của Tử Vi, từ đó suy ra vị trí cả nhóm chính tinh còn lại. Đây là công dụng quan trọng nhất; nếu Cục sai thì cả bộ chính tinh trên lá số sai theo.
- Khởi đại hạn: con số Cục là tuổi bắt đầu đại hạn đầu tiên.
- Đối chiếu sinh khắc: sách Tử Vi so sánh hành của Cục với hành cung Mệnh để xét thế tương sinh, tương khắc, một trong những bước cổ điển khi luận Mệnh.
Cục có tốt xấu không?
Không có Cục nào “tốt” hay “xấu” tuyệt đối. Nhiều tài liệu phổ biến gắn con số lớn với thọ hoặc phú quý, nhưng cách gắn này không đồng nhất giữa các nguồn và không nên dùng để kết luận một mình. Cục chỉ cho biết một đặc tính nền và cần đọc cùng cung Mệnh, chính tinh, tam phương tứ chính và các yếu tố khác. Xem thêm bài Vì sao không nên kết luận lá số chỉ từ một sao? (tinh thần đó cũng áp dụng cho Cục).
Các lỗi thường gặp
- Nhầm Cục với mệnh theo năm sinh (ví dụ người sinh năm Hải Trung Kim cho rằng mình là Kim tứ cục). Cục tính theo nạp âm của cung Mệnh, không theo nạp âm năm sinh.
- Dùng địa chi của năm sinh thay cho địa chi cung Mệnh khi tra bảng.
- Xác định sai cung Mệnh do sai giờ sinh hoặc sai tháng âm lịch, kéo theo sai Cục. Xem bài Giờ sinh ảnh hưởng đến lá số Tử Vi như thế nào?.
- Dùng năm dương lịch thay vì năm âm lịch, đặc biệt với người sinh vào tháng một hoặc tháng hai dương lịch, khi năm âm lịch có thể vẫn chưa sang.
Câu hỏi thường gặp
Bạn có thể lập lá số Tử Vi để xem Cục của mình, và đọc bài Tử Vi Đẩu Số là gì? để hiểu Cục nằm ở đâu trong toàn bộ lá số. Bài tiếp theo trong loạt này giải thích cách an các cung và sao Tử Vi từng bước.
