Bát Tự là cách ghi lại thời điểm một người ra đời bằng tám chữ can chi: bốn thiên can và bốn địa chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh. Mỗi cặp can chi là một trụ, nên Bát Tự còn được gọi là Tứ Trụ. Khi luận, người xem lấy thiên can của trụ ngày làm “bản thân” (gọi là nhật chủ), rồi xét bảy chữ còn lại sinh, khắc, nâng đỡ hay làm hao nhật chủ ra sao để bàn về tính cách và các giai đoạn trong đời.
Bài này dành cho người mới. Bạn sẽ biết tám chữ đó từ đâu ra, mỗi trụ được lập theo quy tắc nào, rồi cùng đọc một lá số minh họa lập bằng công cụ Lập lá số Bát Tự của Tử Vi Thiên Cơ để biết nên xem phần nào trước, phần nào sau.

Bát Tự, Tứ Trụ và Tử Bình: ba tên của cùng một môn
Ba tên gọi này chỉ cùng một phương pháp, mỗi tên nhấn vào một khía cạnh:
- Bát Tự (八字, tám chữ): nhấn vào nội dung, tức tám chữ can chi.
- Tứ Trụ (四柱, bốn cột): nhấn vào hình thức. Lá số viết thành bốn cột dọc, mỗi cột có thiên can ở trên, địa chi ở dưới.
- Tử Bình: tên của phép luận. Tương truyền cách lấy can ngày làm trung tâm, thay cho lối xem theo năm sinh trước đó, gắn với Từ Tử Bình (khoảng thời Ngũ Đại – Bắc Tống). Phần lớn sách Tứ Trụ ngày nay đi theo hướng này.
Sách Dự đoán theo Tứ Trụ của Thiệu Vĩ Hoa nói rõ nguyên tắc ấy: Tứ Trụ lấy sự vượng suy của can ngày làm trung tâm, các can chi khác sinh khắc, phù trợ hay hạn chế can ngày để tạo thành một hệ thống, “do đó can ngày sinh được gọi là nhật nguyên hoặc nhật chủ, hoặc thân”.
Thiên can và địa chi: bộ chữ để viết lá số
Tám chữ của Bát Tự lấy từ hai bộ ký hiệu. Mười thiên can mang ngũ hành và âm dương rõ ràng:
| Ngũ hành | Can dương | Can âm |
|---|---|---|
| Mộc | Giáp | Ất |
| Hỏa | Bính | Đinh |
| Thổ | Mậu | Kỷ |
| Kim | Canh | Tân |
| Thủy | Nhâm | Quý |
Mười hai địa chi quen thuộc hơn vì gắn với 12 con giáp. Mỗi chi có một hành chính và ứng với một canh giờ dài hai tiếng:
| Địa chi | Con giáp | Hành | Giờ |
|---|---|---|---|
| Tý | Chuột | Thủy | 23:00–00:59 |
| Sửu | Trâu | Thổ | 01:00–02:59 |
| Dần | Hổ | Mộc | 03:00–04:59 |
| Mão | Mèo | Mộc | 05:00–06:59 |
| Thìn | Rồng | Thổ | 07:00–08:59 |
| Tỵ | Rắn | Hỏa | 09:00–10:59 |
| Ngọ | Ngựa | Hỏa | 11:00–12:59 |
| Mùi | Dê | Thổ | 13:00–14:59 |
| Thân | Khỉ | Kim | 15:00–16:59 |
| Dậu | Gà | Kim | 17:00–18:59 |
| Tuất | Chó | Thổ | 19:00–20:59 |
| Hợi | Lợn | Thủy | 21:00–22:59 |
Can và chi ghép lần lượt với nhau thành vòng 60 cặp, từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Vòng này dùng chung cho năm, tháng, ngày và giờ. Ngoài hành chính, trong mỗi địa chi còn “chứa” một đến ba thiên can khác, gọi là tàng can. Ví dụ Ngọ tàng Đinh và Kỷ, Mùi tàng Kỷ, Đinh và Ất. Vì vậy trên lá số bạn sẽ thấy một hàng Tàng can nằm ngay dưới hàng địa chi.
Bốn trụ được lập như thế nào?
Đây là phần hay bị làm sai nhất, vì Bát Tự không dùng tháng âm lịch mà dùng lịch tiết khí, tức vị trí của Mặt Trời trên hoàng đạo.
Trụ năm: đổi năm ở Lập Xuân, không phải mùng 1 Tết
Năm can chi bắt đầu từ thời khắc Lập Xuân, rơi vào ngày 3, 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch. Thiệu Vĩ Hoa viết: “Ranh giới để phân chia giữa năm trước và năm sau là thời điểm lập xuân. Rất nhiều người hiểu nhầm lấy ngày mồng 1 tháng giêng của năm sau làm ranh giới.”
Sách đưa ví dụ người sinh mùng 2 Tết năm 1966 (ngày 22/1/1966). Nhiều người nghĩ đã sang năm Bính Ngọ, nhưng Lập Xuân năm đó rơi vào ngày 4/2, nên người này vẫn thuộc năm Ất Tỵ, cầm tinh con rắn. Công cụ của Tử Vi Thiên Cơ lập ra đúng bốn trụ mà sách ghi: năm Ất Tỵ, tháng Kỷ Sửu, ngày Tân Tỵ, giờ Giáp Ngọ (nếu sinh buổi trưa).
Trụ tháng: theo 12 tiết khí
Mỗi tháng Bát Tự bắt đầu ở một tiết và kéo dài đến tiết kế tiếp. Địa chi của tháng cố định, luôn bắt đầu từ tháng Dần:
| Tháng | Bắt đầu từ tiết | Thường rơi vào (dương lịch) |
|---|---|---|
| Dần | Lập Xuân | 3–5/2 |
| Mão | Kinh Trập | 5–6/3 |
| Thìn | Thanh Minh | 4–5/4 |
| Tỵ | Lập Hạ | 5–6/5 |
| Ngọ | Mang Chủng | 5–6/6 |
| Mùi | Tiểu Thử | 6–8/7 |
| Thân | Lập Thu | 7–8/8 |
| Dậu | Bạch Lộ | 7–8/9 |
| Tuất | Hàn Lộ | 8–9/10 |
| Hợi | Lập Đông | 7–8/11 |
| Tý | Đại Tuyết | 6–8/12 |
| Sửu | Tiểu Hàn | 5–6/1 |
Tháng nhuận âm lịch không làm thay đổi gì, vì như sách viết: “Cho dù âm lịch hoặc tháng nhuận là tháng nào thì âm chi của tháng cũng lấy tiết lệnh làm chuẩn.”
Can của tháng suy từ can năm. Tháng Dần của năm Giáp hoặc Kỷ là Bính Dần; năm Ất hoặc Canh là Mậu Dần; năm Bính hoặc Tân là Canh Dần; năm Đinh hoặc Nhâm là Nhâm Dần; năm Mậu hoặc Quý là Giáp Dần. Các tháng sau cứ thế đếm tiếp.
Trụ ngày: vòng 60 ngày, đổi ngày ở giờ Tý
Can chi ngày chạy liên tục theo vòng 60, không phụ thuộc tháng đủ hay thiếu. Ranh giới giữa hai ngày là đầu giờ Tý (23:00), không phải 0 giờ. Sách nhấn mạnh người sinh sau 23 giờ đã thuộc giờ Tý của ngày hôm sau, và lấy 12 giờ đêm làm ranh giới là sai.
Công cụ Bát Tự của site mặc định theo cách này (“Tính sang ngày hôm sau”). Một số phái chia Tý sớm và Tý muộn: người sinh từ 23:00 đến 23:59 vẫn giữ can chi ngày hôm đó, chỉ can giờ tính theo ngày hôm sau. Nếu theo phái đó, bạn chọn “Giữ ngày hôm đó, chỉ đổi can giờ” trong form.
Trụ giờ: can giờ suy từ can ngày
Địa chi giờ lấy theo bảng 12 canh ở trên. Can giờ suy từ can ngày (không phải can năm): ngày Giáp hoặc Kỷ khởi giờ Tý là Giáp Tý; ngày Ất hoặc Canh là Bính Tý; ngày Bính hoặc Tân là Mậu Tý; ngày Đinh hoặc Nhâm là Canh Tý; ngày Mậu hoặc Quý là Nhâm Tý. Chính vì trụ giờ phụ thuộc cả giờ lẫn ngày, form lập lá số Bát Tự bắt buộc nhập giờ sinh.
Ví dụ: lập Tứ Trụ cho người sinh 05:30 ngày 23/6/1990
Lá số minh họa dưới đây không phải của người thật: nam, sinh 05:30 ngày 23/6/1990, không chọn nơi sinh. Bạn có thể nhập đúng dữ liệu này vào công cụ để đối chiếu từng bước.
- Năm: Lập Xuân 1990 giao lúc 09:11 ngày 4/2, ngày sinh đã qua mốc này nên năm là Canh Ngọ.
- Tháng: tiết Mang Chủng giao lúc 05:45 ngày 6/6/1990, tiết sau là Tiểu Thử ngày 7/7, nên ngày sinh nằm trong tháng Ngọ. Năm Canh thì tháng Dần là Mậu Dần; đếm tiếp Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ. Theo âm lịch, ngày này là mùng 1 tháng 5 nhuận, một chi tiết dễ gây lúng túng nhưng không ảnh hưởng gì đến Bát Tự.
- Ngày: tra vòng 60 ngày, 23/6/1990 là ngày Kỷ Mùi.
- Giờ: 05:30 thuộc giờ Mão. Ngày Kỷ khởi Giáp Tý, đếm Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão. Đây cũng chính là ví dụ sách dùng khi giải thích bảng lấy giờ theo ngày.
| Trụ | Can chi | Thiên can | Địa chi | Tàng can | Nạp âm |
|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Canh Ngọ | Canh (Kim dương) | Ngọ (Hỏa) | Đinh, Kỷ | Lộ Bàng Thổ |
| Tháng | Nhâm Ngọ | Nhâm (Thủy dương) | Ngọ (Hỏa) | Đinh, Kỷ | Dương Liễu Mộc |
| Ngày | Kỷ Mùi | Kỷ (Thổ âm), nhật chủ | Mùi (Thổ) | Kỷ, Đinh, Ất | Thiên Thượng Hỏa |
| Giờ | Đinh Mão | Đinh (Hỏa âm) | Mão (Mộc) | Ất | Lư Trung Hỏa |
Đọc lá số Bát Tự theo 5 bước
Lá số trên công cụ có nhiều khối thông tin. Người mới dễ bị cuốn vào thần sát hoặc phần nhận xét ngay từ đầu. Đọc theo thứ tự dưới đây sẽ giúp bạn hiểu vì sao công cụ đưa ra từng kết luận.
Bước 1: Kiểm tra dữ liệu trước khi đọc
Mở khối Thông tin bổ sung, đối chiếu ngày âm lịch, tiết khí và giờ lập trụ. Nếu sinh sát mốc giao tiết thì phải cẩn thận nhất. Chẳng hạn, người sinh 05:00 ngày 6/6/1990, tức 45 phút trước khi giao Mang Chủng, có trụ tháng là Tân Tỵ chứ không phải Nhâm Ngọ. Chỉ lệch 45 phút mà một trong bốn trụ đã khác hẳn.
Bước 2: Tìm nhật chủ
Ô Nhật chủ trong khối Mệnh cục cho biết can ngày. Lá số mẫu có nhật chủ Kỷ Thổ (âm), được công cụ mô tả bằng hình ảnh “ruộng vườn màu mỡ, nhẫn nại và bao dung”. Từ đây, mọi chữ khác đều được đọc trong quan hệ với Kỷ Thổ. Quan hệ đó có tên gọi là thập thần, hiện ngay trên ảnh của từng thiên can:
- Canh (Kim dương) là hành do Thổ sinh ra, khác âm dương với Kỷ, nên là Thương Quan.
- Nhâm (Thủy dương) là hành bị Thổ khắc, khác âm dương, nên là Chính Tài.
- Đinh (Hỏa âm) là hành sinh ra Thổ, cùng âm dương, nên là Thiên Ấn.
Bước 3: Nhìn cán cân ngũ hành
Khối Ngũ hành trong lá số cho biết hành nào nhiều, hành nào ít. Công cụ đếm theo quy tắc: mỗi thiên can lộ tính 1 điểm, hành chính của mỗi địa chi tính 1 điểm, mỗi tàng can phụ tính 0,3 điểm. Lá số mẫu ra kết quả:
| Hỏa | Thổ | Mộc | Kim | Thủy |
|---|---|---|---|---|
| 3,3 | 2,6 | 1,3 | 1 | 1 |
Hỏa nhiều nhất vì có hai chi Ngọ, thêm can Đinh. Kim và Thủy ít nhất, mỗi hành chỉ có một can lộ. Công cụ khác có thể cho trọng số khác, nên con số chỉ dùng để so sánh các hành trong cùng một lá số, không nên đem so với số của trang khác.
Bước 4: Xem mệnh cục (thân vượng hay nhược, dụng thần, cách cục)
Đây là phần luận chính. Sinh tháng Ngọ, mùa hạ Hỏa vượng, Hỏa sinh Thổ nên Thổ ở trạng thái “tướng”. Nhật chủ như vậy là đắc lệnh. Cộng thêm Hỏa và Thổ chiếm phần lớn cán cân, công cụ kết luận lá số Thân vượng.
Thân đã vượng thì cần hành chế bớt hoặc làm hao nhật chủ, nhưng chọn hành nào còn tùy thân vượng vì đâu. Theo bảng lấy dụng thần của Thiệu Vĩ Hoa, thân vượng do Ấn nhiều thì trước hết lấy Tài chế Ấn, còn do Tỷ Kiếp nhiều thì lấy Quan Sát. Lá số mẫu vượng chủ yếu nhờ Hỏa (Ấn của Kỷ Thổ), trong khi Tài của Kỷ Thổ là Thủy có lộ ở can tháng Nhâm. Vì vậy công cụ chọn dụng thần Thủy, hỷ thần Kim (Kim sinh Thủy), kỵ thần Thổ. Thủy cũng chính là hành điều hậu mà công cụ gợi ý cho người sinh giữa mùa hạ nóng.
Lá số còn thuộc Thiên Ấn cách, vì bản khí Đinh của chi tháng Ngọ lộ lên trụ giờ. Chọn dụng thần là chỗ các phái bất đồng nhiều nhất, nên với cùng lá số này, sách khác có thể chọn khác.
Bước 5: Đại vận và lưu niên
Đại vận là những chặng 10 năm, đi thuận với nam sinh năm can dương hoặc nữ sinh năm can âm, và đi nghịch với hai trường hợp còn lại. Người mẫu là nam sinh năm Canh (dương), nên đại vận đi thuận từ trụ tháng Nhâm Ngọ: Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất…
Tuổi khởi vận tính từ ngày sinh đến mốc tiết kế tiếp (đi thuận) hoặc mốc tiết vừa qua (đi nghịch), theo lệ 3 ngày bằng 1 năm. Từ 23/6 đến Tiểu Thử 7/7/1990 là khoảng 14,4 ngày, nên người này khởi vận lúc 4 tuổi 10 tháng. Năm 2026 người đó 36 tuổi, đang ở vận Bính Tuất (2025–2034). Lưu niên là can chi của từng năm, đặt lên lá số gốc để xem năm đó tác động thế nào.
Thần sát nên đọc sau cùng. Chính công cụ cũng ghi chú rằng thần sát là phần phụ của Tử Bình, phần luận chính vẫn nằm ở ngũ hành, thập thần và dụng thần.
Nhật chủ khác với “mệnh” theo năm sinh
Người sinh năm 1990 thường nghe “tuổi Canh Ngọ, mệnh Lộ Bàng Thổ”. Đó là nạp âm của trụ năm, chỉ là một chi tiết nhỏ trên lá số. Bát Tự luận xoay quanh nhật chủ, và hai người cùng năm sinh gần như chắc chắn có nhật chủ khác nhau vì can ngày thay đổi mỗi ngày.
Ở lá số mẫu, “mệnh” nạp âm (Lộ Bàng Thổ) và nhật chủ (Kỷ Thổ) tình cờ cùng hành Thổ. Nhưng nạp âm của chính trụ ngày lại là Thiên Thượng Hỏa. Nếu nhầm ba thứ này với nhau thì mọi phần luận phía sau đều lệch.
Bát Tự khác Tử Vi ở đâu?
Cả hai đều lập từ năm, tháng, ngày, giờ sinh nhưng dựa trên hai hệ lịch khác nhau. Tử Vi Đẩu Số dùng tháng và ngày âm lịch để an 12 cung với 14 chính tinh và nhiều phụ tinh. Bát Tự dùng tiết khí để lập tám chữ can chi rồi luận bằng ngũ hành. Vì vậy cùng một người có thể lập cả hai lá số, và hai lá số trả lời những câu hỏi theo cách khác nhau. Tử Vi Thiên Cơ có cả hai công cụ: Lập lá số Tử Vi và Lập lá số Bát Tự.
Bát Tự nói được gì và không nói được gì
Phần lập trụ, tính thập thần hay đếm ngũ hành là quy tắc xác định: cùng dữ liệu, cùng quy ước thì cho cùng kết quả. Phần luận tính cách, sự nghiệp hay các giai đoạn trong đời là diễn giải theo truyền thống Tử Bình, và các phái có thể luận khác nhau trên cùng một lá số. Bát Tự không phải phương pháp khoa học để dự đoán chắc chắn tương lai. Hãy dùng nó như một cách nhìn lại bản thân, đừng để nó thay cho tư vấn y khoa, pháp lý hay tài chính.
Câu hỏi thường gặp
Bát Tự và Tứ Trụ có phải là một không?
Phải. Bát Tự (tám chữ) và Tứ Trụ (bốn trụ) là hai tên của cùng một phương pháp: bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ, mỗi trụ gồm một thiên can và một địa chi, tổng cộng tám chữ. Tử Bình là tên gọi theo phép luận lấy can ngày làm trung tâm.
Sinh sau Tết nhưng trước Lập Xuân thì tính tuổi năm nào?
Trong Bát Tự, người đó vẫn thuộc năm can chi trước. Năm đổi ở thời khắc Lập Xuân (ngày 3–5/2 dương lịch), không phải mùng 1 Tết. Ví dụ người sinh mùng 2 Tết 1966 (22/1/1966) vẫn thuộc năm Ất Tỵ.
Không biết giờ sinh có lập được lá số Bát Tự không?
Không lập đủ được. Trụ giờ phụ thuộc cả giờ sinh lẫn can ngày, nên form lập lá số Bát Tự trên Tử Vi Thiên Cơ bắt buộc nhập giờ. Nếu chỉ nhớ khoảng giờ, hãy lập vài phương án ở các canh giờ có khả năng và so sánh, đừng coi phương án nào là chắc chắn.
Nhật chủ có giống mệnh ngũ hành theo năm sinh không?
Không. “Mệnh” theo năm sinh (ví dụ Lộ Bàng Thổ cho tuổi Canh Ngọ) là nạp âm của trụ năm. Nhật chủ là thiên can của trụ ngày, thay đổi theo từng ngày, và là trung tâm của mọi phần luận trong Bát Tự.
Cách hiểu nhanh nhất là tự lập một lá số rồi đối chiếu với các bước trên. Hãy lập lá số Bát Tự miễn phí, bắt đầu từ ô Nhật chủ, rồi lần lượt xem ngũ hành, mệnh cục và đại vận.
Nguồn tham khảo
- Thiệu Vĩ Hoa, Dự đoán theo Tứ Trụ: chương 3 “Đặc trưng của Tứ Trụ” (cách xếp trụ năm, tháng, ngày, giờ) và chương 4 “Tam nguyên của Tứ Trụ” (nhật nguyên và mười thần).
- Lá số minh họa, ngày giao tiết và bảng ngũ hành trong bài được lập bằng công cụ Lập lá số Bát Tự của Tử Vi Thiên Cơ, nên khớp với kết quả bạn thấy khi tự nhập cùng dữ liệu.
